Trong Đông y, trái Dâu được dùng từ đời Đường. Các công trình nghiên cứu cho thấy Dâu ta và Dâu Tầu có
giá trị nuôi tằm và làm thuốc tương đương nhau.
dâu tằm


Theo Trung dược học bản thảo : Trái Dâu tằm có công dụng bổ thận, dưỡng huyết, khu phong, sáng mắt, tăng lực, chữa táo bón kinh niên; theo Bản thảo cương mục Lý Thời Trân: Trái Dâu giải được độc của rượu, lợi cho cả khí, cả thuỷ trong cơ thể.

Cây Dâu cho lá nuôi tằm ra hoa kết trái vào tháng 2, 3. Đến mùa Thu thì trái ít và nhỏ hơn. Giống Dâu vườn lưu niên cho quả nhiều, to, ngọt và chất lượng tốt hơn. Trồng Dâu lấy quả phải chọn giống Dâu ít lá, lá nhỏ và mỏng. Ở miền Bắc Công ty Đông dược Bảo Long đã chọn quả Dâu Ba Vì (Hà Tây) để sản xuất Vang dâu cho chất lượng cao. Dâu càng chín (tím đen) càng thơm ngọt, bớt chua chát, nhiều chất bổ dưỡng.

Theo Viện Dược liệu Bộ Y tế: Trong quả Dâu: Nước 84,71%; Đường 9,19%; Axit 80%; Protit 0,36%; Tanin; Vitamin C; Caroten. Trong đường có glucoza, fructoza. Trong axit có axit malic, axit sucinic. Một số tài liệu Trung Quốc cho biết: Cứ 100g quả Dâu có 1,6g anbumin, 0,4 chất béo, 9,6g chất đường, 20mg caroten, 30mg canxi, 33mg phốtpho, 0,3mg sắt.



Thu hoạch dâu chín phải nhẹ tay, không để dập nát, gây lên men, không chất đống, thiếu không khí, dễ gây giảm chất lượng của các chế phẩm. Chế biến quả Dâu bằng nhiều cách, từ đơn giản đến phức tạp: nước ép Dâu, Cao Dâu, Dâu ủ men, Dâu hấp, mứt Dâu, bột Dâu, Dâu xào thịt… Trong các chế phẩm đó, có khi chỉ dùng trái Dâu, có khi phối hợp thêm nhiều thức ăn hay các vị thuốc Đông y khác để phục vụ cho mục đích điều trị khác nhau.

Quả Dâu chín có tác dụng chữa bệnh rất tốt:

- Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, lợi xương khớp - Rượu tang thậm (Tang thậm tửu). Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân: Quả Dâu tươi, chín 5000g, Gạo nếp 6000g. Men rượu vừa đủ. Quả Dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội, cho cơm nếp, men rượu, trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30 – 50 ml/ngày, vào 2 bữa cơm.

- Dưỡng huyết đen mượt tóc (Trung y mỹ dung): Quả Dâu tươi chín 50g. Đường phèn vừa đủ. Quả Dâu rửa sạch, cho vào nồi đất, nước vừa đủ, sắc lấy nước, hoà đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè.

- Các bệnh tuổi già: Nhức mỏi cơ xương, khớp, đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lẫn.

* Rượu quả Dâu: Quả Dâu chín 5kg, rượu gạo , Đường phèn vừa đủ
. - Dâu tằm rửa sạch, để ráo nước, đường giả nhuyển.  
  -Cho vào bình thủy tinh 1 lớp dâu,1 lớp đường....trên cùng là lớp đường. Đậy kín nắp và ủ trong vòng 1 tháng để lên mem. Khoảng hai tuần 1 lần dùng vá sạch ém đè cho lớp dâu phía trên xuống để ngấm đều.
- Sau 1 tháng cho rượu vào bình và ủ thêm 1 tháng nữa. Lần này xác dâu sẽ nhừ nát. Khi dùng ta nên lọc bỏ xác và lấy phần nước rượu dâu đậm hương vị thơm ngon.

* Cháo quả Dâu: Quả Dâu chín 40g, Gạo cũ 50g, Đường phèn vừa đủ. Nấu cháo loãng, ăn buổi sáng (khi chưa ăn gì, bụng còn đói), rất tốt với trẻ em, người già, yếu, ốm dậy.

* Bánh mè quả Dâu: Quả Dâu 30g, Vừng đen 60g, Bột nếp 700g, Bột gạo tẻ, hạt Đay 10g, Đường trắng 30g. Làm bánh, hấp chín.

- Tóc khô gẫy, rụng, chóng bạc:

* Quả Dâu 100g, rượu 1/2 lít, ngâm 3 ngày. Uống ngày 2 bữa cơm. Mỗi lần 20ml.

* Quả Dâu, Sinh địa, mỗi thứ 30g, Đường trắng 15g. Giã nát, sắc uống, chia 10 lần uống.

- Mất ngủ cấp tính: Quả Dâu tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.

- Mất ngủ kinh niên: Quả Dâu 15g, Thục địa 15g, Bạch thược 15g sắc uống.

- Các chứng bệnh sau đẻ: (hậu sản do âm huyết kém: ho, sốt): Dâu, Long nhãn, Đẳng sâm, mỗi thứ 30g, nghiền nát 3 thứ. Uống mỗi lần 2 – 3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần.

- Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả Dâu 30g, Ngân nhĩ 20g, Ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.

- Ho lâu ngày do phế hư: Quả Dâu 150g, Lá Dâu 100g, Vừng đen 100g, cô cao lỏng, thêm 500g đường, uống ngày 3 lần. Mỗi lần 15g (1 thìa con).

- Phù thũng: Cành Dâu một nắm, băm nhỏ, đổ ngập nước, đun còn một nửa bỏ bã; Dâu chín một lượng bằng lượng cành, nấu nhừ lọc bỏ bã cô đặc,  cho đường, ít rượu, ngày uống 2 thìa canh, hoà nước cơm uống trước bữa ăn.

- Chảy nước mắt sống (Nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả Dâu 20g, Cà chua một quả, đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngày 1 – 2 lần. Đồng thời lấy lá Dâu già, chưa rụng, nấu lấy nước rửa mắt hàng ngày.

- Ăn không tiêu, trướng bụng óc ách, tức thở: Quả Dâu 10g, Bạch truật 6g, sắc uống.
Nguồn:http://sanphamdautam.blogspot.com/
mật mã captcha
mật mã captcha


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Các CAPTCHA thuở đầu tiên như thế này, được chương trình EZ-Gimpy tạo ra, đã được Yahoo sử dụng. Tuy nhiên, đã có công nghệ đọc được loại CAPTCHA này
Một CAPTCHA hiện đại. Ngoài việc cố gắng tạo ra phông nền méo mó và làm cong chữ, CAPTCHA này còn tập trung vào việc làm cho từng đoạn khó nhận ra hơn bằng cách thêm vào đường gạch ngang.
Một cách khác để khiến khó phân tách hơn. Con người có thể đọc dễ dàng các chữ chồng lên nhau, còn máy thì rất khó tách chữ
Một CAPTCHA (ˈkæptʃə, đọc giống như "capture") là một loại kiểm thử dạng hỏi đáp được dùng trong máy tính để xác định xem người dùng có phải là con người hay không. "CAPTCHA" là chữ viết tắt của của "Completely Automated Public Turing test to tell Computers and Humans Apart" (Phép thử Turing công cộng hoàn toàn tự động để phân biệt máy tính với người), được trường Đại học Carnegie Mellon cố gắng đăng kí thương hiệu nhưng đã bị bác bỏ. Đây là một quá trình một máy tính (máy chủ) yêu cầu một người dùng hoàn tất một kiểm tra đơn giản mà máy tính có thể dễ dàng tạo ra và đánh giá, nhưng không thể tự giải nó được. Vì máy tính không thể giải quyết CAPTCHA, bất kỳ người dùng nào nhập vào lời giải đúng sẽ được xem là con người.
Thuật ngữ CAPTCHA được Luis von AhnManuel Blum, Nicholas J. Hopper (tất cả đều thuộc Đại học Carnegie Mellon), và John Langford (khi đó thuộc IBM) đặt ra vào năm 2000. Một loại CAPTCHA phổ biến yêu cầu người dùng phải nhập các chữ cái trong một tấm hình méo mó, đôi khi cùng với một dãy số hoặc chữ lờ mờ xuất hiện trên màn hình.
Một CAPTCHA đôi khi được mô tả như một phép thử Turing ngược, vì nó được một máy tạo ra và nhắm vào con người, ngược lại với phép thử Turing chuẩn do con người tạo ra và nhắm vào máy.
Hiện nay, reCAPTCHA được những người đã chế tạo ra CAPTCHA ban đầu khuyên dùng như cách hiện thực CAPTCHA chính thức.

 Đặc điểm:
 Một hệ thống CAPTCHA là một dạng thử thách mới được tạo ra tự động trong đó:
·             + Các máy tính hiện nay không thể giải được một cách chính xác.
·             + Đa số con người có thể giải được.
·     Không phụ thuộc vào loại CAPTCHA đó có mới lạ đối với kẻ tấn công hay không. Mặc dù một hộp kiểm "nhấn vào đây nếu bạn không phải là máy" có thể được dùng để phân biệt giữa người với máy tính, nhưng nó không phải CAPTCHA vì nó phụ thuộc vào sự thật là kẻ tấn công không phải mất quá nhiều công sức để phá biểu mẫu kiểu đó.
Nguồn gốc
Sự khó khăn tiềm tàng trong việc phân biệt giữa người và máy tính mạo danh con người đã được đề ra từ những năm 1950, khi Alan Turing mô tả phép thử Turing mà ngày nay đã trở nên rất nổi tiếng của ông. Cuộc bàn luận đầu tiên về các thử nghiệm tự động để phân biệt con người với máy tính với mục đích kiểm soát sự truy cập các dịch vụ web xuất hiện trong bản thảo năm 1996 của Moni Naor từ Viện Khoa học Weizmann, có tên "Lĩnh vực xác minh con người, hay Sự định danh thông qua Phép thử Turing" Naor, Moni (1996). "Verification of a human in the loop or Identification via the Turing Test"..
Những CAPTCHA nguyên thủy có lẽ được phát triển vào năm 1997 tại AltaVista, do Andrei Broder và đồng nghiệp của ông sáng tạo để ngăn ngừa bot thêm URL vào bộ máy tìm kiếm của họ. Để khiến cho hình ảnh chống lại được OCR (Nhận dạng ký tự quang học), nhóm đã mô phỏng những tình huống mà những cuốn hướng dẫn bộ quét cho rằng sẽ dẫn đến kết OCR sai. Vào năm 2000, von Ahn và Blum đã phát triển và công khai khái niệm CAPTCHA, bao gồm bất kỳ chương trình nào có thể phân biệt con người với máy tính. Họ đã sáng chế ra nhiều mẫu CAPTCHA, gồm có những CAPTCHA đầu tiên được sử dụng rộng rãi, và cũng chính là những loại được Yahoo! sử dụng.
Ứng dụng
CAPTCHA được dùng để ngăn chặn phần mềm tự động thực hiện những tác vụ có thể làm giảm đi chất lượng dịch vụ của một hệ thống có sẵn, có thể bằng cách lạm dụng hoặc làm hao tổn tài nguyên. CAPTCHA có thể được dùng để bảo vệ hệ thống chống lại spam e-mail, như các dịch vụ webmail của GmailHotmail, và Yahoo!. CAPTCHA cũng được dùng nhiều trong việc ngăn chặn đăng bài tự động trong blog hoặc diễn đàn, có thể với mục đích quảng cáo thương mại, hoặc quấy rối và phá hoại. CAPTCHA cũng có chức năng quan trọng trong hạn chế quá tải, vì việc sử dụng tự động một dịch vụ là điều mong muốn cho đến khi cách dùng đó bắt đầu vượt quá giới hạn, và làm tổn hại đến những người dùng là con người. Trong trường hợp đó, một CAPTCHA có thể thực thi quy định sử dụng tự động do người quản trị đặt ra khi giá trị đo lường mức sử dụng vượt quá một ngưỡng cho trước. Hệ thống xếp hạng bài viết được nhiều trang web tin tức sử dùng cũng là một ví dụ về cơ chế trực tuyến chống lại sự tính toán của phần mềm tự động.
CAPTCHA
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Các CAPTCHA thuở đầu tiên như thế này, được chương trình EZ-Gimpy tạo ra, đã được Yahoo sử dụng. Tuy nhiên, đã có công nghệ đọc được loại CAPTCHA này.
Một CAPTCHA hiện đại. Ngoài việc cố gắng tạo ra phông nền méo mó và làm cong chữ, CAPTCHA này còn tập trung vào việc làm cho từng đoạn khó nhận ra hơn bằng cách thêm vào đường gạch ngang.
Một cách khác để khiến khó phân tách hơn. Con người có thể đọc dễ dàng các chữ chồng lên nhau, còn máy thì rất khó tách chữ
Một CAPTCHA (ˈkæptʃə, đọc giống như "capture") là một loại kiểm thử dạng hỏi đáp được dùng trong máy tính để xác định xem người dùng có phải là con người hay không. "CAPTCHA" là chữ viết tắt của của "Completely Automated Public Turing test to tell Computers and Humans Apart" (Phép thử Turing công cộng hoàn toàn tự động để phân biệt máy tính với người), được trường Đại học Carnegie Mellon cố gắng đăng kí thương hiệu nhưng đã bị bác bỏ. Đây là một quá trình một máy tính (máy chủ) yêu cầu một người dùng hoàn tất một kiểm tra đơn giản mà máy tính có thể dễ dàng tạo ra và đánh giá, nhưng không thể tự giải nó được. Vì máy tính không thể giải quyết CAPTCHA, bất kỳ người dùng nào nhập vào lời giải đúng sẽ được xem là con người.
Thuật ngữ CAPTCHA được Luis von AhnManuel Blum, Nicholas J. Hopper (tất cả đều thuộc Đại học Carnegie Mellon), và John Langford (khi đó thuộc IBM) đặt ra vào năm 2000. Một loại CAPTCHA phổ biến yêu cầu người dùng phải nhập các chữ cái trong một tấm hình méo mó, đôi khi cùng với một dãy số hoặc chữ lờ mờ xuất hiện trên màn hình.
Một CAPTCHA đôi khi được mô tả như một phép thử Turing ngược, vì nó được một máy tạo ra và nhắm vào con người, ngược lại với phép thử Turing chuẩn do con người tạo ra và nhắm vào máy.
Hiện nay, reCAPTCHA được những người đã chế tạo ra CAPTCHA ban đầu khuyên dùng như cách hiện thực CAPTCHA chính thức.


Có rất nhiều công cụ phân tích mạng phức tạp và chuyên dụng nhưng thực ra chỉ có 10 công cụ chủ yếu để có thể giải quyết mọi sự cố trên mạng TCP/IP. Đó là những công cụ không phải là mạnh nhất nhưng lại được sử dụng thường xuyên nhất, bạn nên chắc chắn rằng trong bộ đồ nghề ISYSTEM.com.vn của mình luôn sẵn sàng các công cụ này để phục vụ tốt nhất cho việc giải quyết sự cố.
1. Ping.
Ping là một ứng dụng kiểm tra kết nối giữa hai điểm trong mạng để xem chúng có thông suốt và hoạt động tốt ko, việc này được thực hiện bằng cách gửi và nhận một chuỗi các gói tin theo giao thức ICMP. Một trong những bước đầu tiên trong quy trình troubleshooting chính là một thao tác tưởng chừng đơn giản: ping địa chỉ loopback 127.0.0.1 để kiểm tra hoạt động của TCP/IP trong chính các local host.

2. Traceroute.
Traceroute được xây dựng trên nền tảng ứng dụng ping tuy nhiên nó không chỉ kiểm tra hoạt động của các tuyến đường mà còn xác định các chặng cần đi qua trên đường truyền và tính toán được thời gian gói tin được vận chuyển trên từng chặng. Ví dụ khi ta ping một thiết bị đầu xa và nhận thấy độ trễ của gói tin trả lời là rất lớn, muốn biết được gói tin bị trễ ở đâu, cần thực hiện lệnh traceroute.

3. Protocol analyzer/network analyzer.
Một bộ công cụ phân tích các giao thức (đôi khi còn gọi là các network analyzer) là một công cụ thiết yếu để admin theo dõi được hoạt động của mạng. Các công cụ này thực hiện công việc bắt các gói tin trên đường truyền (mặc định thường là bắt tất cả các gói, có thể cấu hình các bộ lọc để chỉ bắt một số gói nhất định).

Các gói tin này sẽ được lưu trong bộ đệm bắt gói, sau đó sẽ được phân tích các thông số trong gói và giải mã thông tin để hiển thị trên màn hình. Một số công cụ như Network Associates' Sniffer Pro còn có khả năng phát hiện ra tiến trình truyền nhận thông tin để phát hiện các động thái tấn công và xâm nhập để báo động với admin.

Một số các công cụ khác cũng khá phổ biến là: AG Group's EtherPeek, công cụ Network Monitor của WindowsNT.

4. Port scanner.
Công cụ quét cổng có thể phát hiện ra các dịch vụ nào đang hoạt động trên thiết bị đầu xa. Tuy nhiên quét cổng thường được xếp vào loại các hành động tấn công hoặc hành động xâm nhập và thường bị các mạng đầu xa chặn.

5. Nslookup/DIG.
Tiện ích nslookup cơ bản gửi các bản tin querry đến DNS server. Bản tin này sẽ nhờ server thực hiện một thao tác phân giải từ tên miền hoặc tên host sang địa chỉ IP tương ứng với nó. Domain Internet Grouper (DIG) là một công cụ tương tự như nslookup nhưng cung cấp nhiều thông tin về DNS hơn.

Ví dụ: một thao tác nslookup đơn giản cho www.ipmac.com.vn sẽ trả về những thông tin sau:
> www.ipmac.com.vn
Name: ipmac.com.vn
Address: 64.235.234.141
Aliases: www.ipmac.com.vn

Trong khi đó với cùng thao tác trên DIG trả về các thông tin trên cộng với phần sau:
Name servers: ns1.lunarpage.com
IP address: 69.25.27.170
ns1.lunarpage.com
IP address: 66.150.161.141

6. ARP.
Công cụ này cho phép theo dõi các địa chỉ IP trên mạng và các địa chỉ vật lý tương ứng với nó. Bằng công cụ này, admin có thể hiển thị ra bảng ARP để biết được địa chỉ vật lý của thiết bị thực hiện việc gửi nhận thông tin qua mạng. Việc này đóng vai trò khá quan trọng vì chỉ bằng cách xem địa chỉ vật lý (là địa chỉ duy nhất định danh cho thiết bị mạng) admin mới phát hiện được chính xác một host vì địa chỉ IP chỉ là địa chỉ logic, nó hoàn toàn có thể bị thay đổi.

7. Route.
Là công cụ cho phép hiển thị và thao tác với bảng định tuyến trong thiết bị.

8. Các công cụ SNMP.
Các công cụ quản trị trên nền SNMP cho phép thu thập thông tin trong các bản tin Management Information Base (MIB) được phát đi bởi những thiết bị hỗ trợ SNMP. Có thể theo dõi các thiết bị SNMP bằng một hệ thống thông báo/báo động có khả năng báo cáo cho SNMP ngay lập tức về các action vượt qua giới hạn đã được cấu hình trước trên các thiết bị. Tuy nhiên một trở ngại đối với SNMP là hiện có rất ít các sản phẩm có khả năng chạy trên nhiều nền tảng thiết bị của các hãng khác nhau.

9. Bộ test Cable.
Đây là một công cụ không thể thiếu để kiểm tra sự chính xác trong hoạt động của hệ thống dây dẫn. Công cụ phổ biến là Microtest's OmniScanner được trang bị các chức năng test độ toàn vẹn và độ nhiễu của dây dẫn. Bộ kiểm tra cáp có khả năng làm những việc sau: báo cáo về tổng chiều dài dây dẫn, kết quả kiểm tra các thông số, độ nhiễu xuyên âm, độ suy hao đường truyền, trở kháng và nhiều thông số khác nữa.

Một số công cụ kiểm tra cáp còn cung cấp khả năng theo dõi traffic trên mạng.


10. Các công cụ tổ hợp.

Ngòai các công cụ trên còn một số công cụ giải quyết sự cố khác bao gồm NetScanTools Pro 2000 và AG Group’s NetTools. Các công cụ này thuận tiện ở chố nó là những phần mềm tổ hợp của các tiện ích port scan, ping, traceroute và thực hiện được cả thao tác nslookup, tiết kiệm đáng kể cho admin thời gian troubleshoot cho một mạng. Trong hai công cụ tổng hợp trên NetTools có giá thành rẻ hơn tuy nhiên các tiện ích của nó chỉ là một phần nhỏ so với NetScanTools Pro 2000.

Admin cũng có thể sử dụng các tiện ích cung cấp thông tin và cấu hình cơ bản được tích hợp sẵn trong Windows như WINIPCFG, IPCONFIG và netstat. Một phần mềm tính toán địa chỉ IP đôi khi cũng trở thành một công cụ thuận lợi để tiết kiệm thời gian, có rất nhiều phần mềm loại này,các admin có thể download miễn phí trên mạng.